Vai trò của MCHA đối với sức khỏe


Microcrystalline Hydroxyapatite (MCHA) là một chiết xuất hữu cơ của xương bò có đặc điểm tương tự như cấu trúc của xương tự nhiên[1]. Tỉ lệ canxi/phốt pho của MCHA xấp xỉ 2:1, tương tự tỉ lệ tự nhiên tìm thấy trong xương, bao gồm gần 24% canxi và 12% phốt pho cũng như các yếu tố vi lượng của khoáng chất, protein nền, glycosaminoglycan, collagen và các yếu tố tăng trưởng hoạt tính sinh học [2]. Thành phần sinh lý học của canxi và phốt pho trong MCHA và chất nền protein tự nhiên làm tăng tính sinh khả dụng của MCHA so với các sản phẩm bổ sung canxi thông thường khác [1, 3, 4]. MCHA cần phải được chiết xuất và chế biến ở nhiệt độ sinh học thấp để duy trì cấu trúc tinh thể và tính sinh khả dụng cao của MCHA, thì [5]. MCHA có nguồn gốc 100% từ xương bò non của Úc, có nghĩa là MCHA là sản phẩm đã được chứng nhận không bị bệnh viêm não thể bọt biển (BSE) và bệnh lở mồm long móng (FMD) phù hợp và an toàn cho ứng dụng lâm sàng [6].

Hơn thế nữa, MCHA còn có độ tinh khiết <1 phần triệu tổng các kim loại nặng, chứng tỏ MCHA là một trong những dạng canxi hydroxyapatite an toàn nhất [5]. Điều cần thiết là phải đáp ứng mức khuyến nghị bổ sung canxi hàng ngày từ tất cả các nguồn cho người lớn là 1000 – 1300mg để duy trì hằng định nội môi giữa hoạt động của tạo cốt bào và hủy cốt bào và vì vậy giúp cân bằng quá trình sản xuất và quá trình hủy khoáng xương [7, 8]. Trong các công thức  Mesalus , vitamin D và K rất quan trọng cho việc hấp thu canxi qua ruột non và gắn canxi vào cấu trúc xương cứng chắc, và cùng với MCHA tạo ra một nguồn canxi giá trị sẵn có.


Trẻ em và Thanh thiếu niên

Bổ sung MCHA thích hợp về lâm sàng và được dung nạp tốt ở trẻ nhỏ và thanh thiếu niên [2, 9]. Điều trị bằng MCHA đã được nghiên cứu trong các trường hợp khuyết tật bẩm sinh của quá trình hình thành xương. Một nghiên cứu bệnh chứng nhỏ ở trẻ bị bệnh xương thủy tinh (OI) đã cho thấy dùng liều 8g MCHA/ngày giúp cải thiện tổng lượng cân bằng canxi và phốt pho qua một liệu trình 8 – 14 tháng mà không có bất kỳ một tác dụng phụ nào. Sự cân bằng canxi tích cực được quan sát thấy nhiều khả năng là do sự hấp thu khoáng chất đã được cải thiện nhờ các amino axit, như proline, có trong MCHA [10]. Tương tự như vậy, bổ sung MCHA (1000mg canxi) cho thanh niên ở độ tuổi 18 – 24 kết hợp với tập thể dục sẽ làm giảm quá trình hủy xương [11], điều này cho thấy bổ sung MCHA ở đầu giai đoạn trưởng thành có thể giúp ngăn ngừa giảm mật độ xương do tuổi già.

Phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai là nhóm có nguy cơ cao bị thiếu hụt canxi vì họ có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn để hỗ trợ cho quá trình mang thai và cho con bú. Trong thời kỳ mang thai, mật độ xương giảm tối thiểu 5% do nhu cầu khoáng hóa xương của thai nhi và trẻ sơ sinh đang phát triển [12]. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy bổ sung canxi (300 hoặc 600mg) trong giai đoạn cuối thai kỳ làm tăng đáng kể mật độ xương của trẻ sơ sinh [13]. Gần đây người ta cũng thấy rằng dùng liều 1200mg canxi cho phụ nữ ở giai đoạn cuối thai kỳ có thể làm giảm tiến trình hủy xương và giảm mật độ xương của người mẹ [14]. Trong thai kỳ, MCHA cũng có thể làm giảm tới 82% nguy cơ bị tiền sản giật [15, 16] và giảm 27% các vấn đề về răng ở trẻ nhỏ [17]. Tóm lại, bổ sung MCHA có thể là một can thiệp thiết thực để ngăn ngừa mất xương tạm thời và làm giảm đau xương liên quan đến thai kỳ [18].

Phụ nữ quanh và hậu mãn kinh

Sự sụt giảm lượng estrogen trong thời kỳ hậu mãn kinh góp phần làm suy giảm đáng kể mật độ xương, làm cho phụ nữ hậu mãn kinh có nguy cơ cao bị loãng xương. Một loạt bằng chứng lâm sàng cho thấy bổ sung MCHA có thể ngăn ngừa mất xương và làm chậm lại toàn bộ quá trình giảm mật độ xương [19]. Khi điều trị phối hợp với liệu pháp thay thế hormone, MCHA sẽ hữu ích cho việc kiểm soát quá trình mất xương trong thời kỳ hậu mãn kinh [20]. Điều trị bằng MCHA (2 viên 830mg trong mỗi 12 giờ) cho thấy làm tăng lượng osteocalcin ở phụ nữ đang bị loãng xương do tuổi già [21], osteocalcin là một protein quan trọng đối với điều hòa chuyển hóa và hoạt động của tạo cốt bào giúp thúc đẩy quá trình phát triển xương và hằng định nội môi ion canxi. Các cải thiện đáng kể về mật độ xương ở cột sống thắt lưng và cổ xương đùi đã được ghi nhận sau 3 năm điều trị bằng MCHA, điều này nhấn mạnh tác dụng đồng hóa của MCHA đối với xương nhiều hơn so với muối canxi carbonate[21]. Nhiều báo cáo khác đã nhấn mạnh rằng MCHA cho thấy các cải thiện về mật độ khoáng xương so với các hợp chất canxi thông thường khác, bao gồm canxi carbonate và gluconate [8, 21-24] và trung bình cải thiện đáng kể về mật độ xương có thể được quan sát thấy sau 1 năm điều trị MCHA (3-6g/ngày) [8]. Xơ gan mật nguyên phát, thường gặp ở phụ nữ hậu mãn kinh, được đặc trưng bởi sự ứ mật cao. Một ưu điểm nữa của việc điều trị bằng MCHA trong các bệnh này là hàm lượng natri trong MCHA thấp hơn so với các muối canxi khác [23].

Trong một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên được tiến hành bởi Bristow và cộng sự, điều trị MCHA (1g/ngày) làm tăng lượng phốt phát và sản phẩm muối canxi phốt phát nhiều hơn khi dùng các muối canxi thông thường như canxi citrate, canxi carbonate hoặc giả dược không có canxi. MCHA làm tăng tức thời và kéo dài nồng độ canxi huyết thanh (sau 3 tháng), giúp ngăn ngừa sự hủy xương được phản ánh bằng sự sụt giảm các chất chỉ thị hủy xương như C-telopeptide huyết thanh (CTX), hormone tuyến cận giáp (PTH) và procollagen type-I N-terminal propeptide (PINP) thể hiện trong hình 2. Mặc dù MCHA làm tăng Canxi huyết thanh ít hơn so với các sản phẩm bổ sung canxi khác, nhưng MCHA có hiệu quả đáng kể trong việc giảm quá trình chu chuyển xương và vì vậy vẫn đạt hiệu quả điều trị tương đương ở những trường hợp có nhu cầu tăng canxi huyết thanh ít hơn [25] (Hình 1) [1]. Đây có thể là một đặc tính có lợi của việc bổ sung canxi MCHA so với các lựa chọn điều trị khác vì việc tăng đáng kể nồng độ canxi huyết thanh có thể là nguyên nhân cơ bản của các bệnh tim mạch [26-28]. Dùng MCHA (1660mg/ngày) trong 6 tháng cho phụ nữ hậu mãn kinh cũng làm giảm đau lưng và đầu gối, điều này nhấn mạnh MCHA cũng đóng vai trò như một loại thuốc giảm đau hiệu quả [3]. Trong thời kỳ tiền mãn kinh, điều trị bằng ossein hydroxyapatite complex (OHC) giúp duy trì mật độ khối xương trong suốt ba năm trong khi đó người ta quan sát thấy mật độ khối xương vẫn bị giảm khi bổ sung bằng canxi carbonate. Vì liều lượng canxi trong nhóm điều trị canxi carbonate cao hơn gần 40%, nên sự khác biệt về hiệu quả có khả năng là do thành phần chất xương tự nhiên của OHC [29], điều này cho thấy hiệu quả của OHC đối với việc ngăn ngừa loãng xương.

Hình 1. Các thông số dược động học về canxi và phốt pho huyết thanh sau khi dùng 1g MCHA/ngày, so với việc dùng canxi carbonate, hoặc citrate, hoặc giả dược. [1].

Hình 1. Các thông số dược động học về canxi và phốt pho huyết thanh sau khi dùng 1g MCHA/ngày, so với việc dùng canxi carbonate, hoặc citrate, hoặc giả dược. [1].

Hình 2. Các thay đổi về nồng độ a) hormone tuyến cận giáp (PTH) b) C-telopeptide (CTX) và c) procollagen type-I N-terminal propeptide (PINP) trong huyết thanh sau 8 giờ sau khi tiêu hóa 1g canxi, chỉ định dùng cho các dạng: citrate, carbonate và microcrystalline hydroxyapatite trong một kỳ 3 tháng [1].

Hình 2. Các thay đổi về nồng độ a) hormone tuyến cận giáp (PTH) b) C-telopeptide (CTX) và c) procollagen type-I N-terminal propeptide (PINP) trong huyết thanh sau 8 giờ sau khi tiêu hóa 1g canxi, chỉ định dùng cho các dạng: citrate, carbonate và microcrystalline hydroxyapatite trong một kỳ 3 tháng [1].

Người già và những người bị loãng xương

Phụ nữ hậu mãn kinh và người già là hai nhóm có nguy cơ cao nhất bị thiếu hụt canxi và loãng xương vì vậy họ cần phải bổ sung canxi để điều trị, hoặc tốt hơn cả là để ngăn ngừa bệnh này. Sau khi dùng MCHA trong 1 năm, chỉ có 10% bệnh nhân hen có nguy cơ bị loãng xương liên quan đến việc dùng prednisolone báo cáo là vẫn còn đau, so với 100% những bệnh nhân của nhóm đối chứng đã báo cáo hoặc là không có sự thay đổi về cơn đau hoặc là lại cảm thấy cơn đau tồi tệ đi. Những bệnh nhân này cho thấy sự gia tăng trong khoáng hóa xương và giảm sự tiến triển loãng xương, thể hiện sự dung nạp cao và tính an toàn của MCHA ở những bệnh nhân bị loãng xương do cortico-steroid [30]. Cũng như vậy, đối với các bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp, suy thận mạn tính và viêm gan mạn tính tự miễn, bổ sung MCHA làm giảm mất mật độ xương và cải thiện đau lưng [8, 9, 31, 32], nhấn mạnh tác dụng giảm đau của MCHA [3]. Không giống như các sản phẩm bổ sung canxi khác, MCHA không chỉ ngăn ngừa mất xương, mà còn kích thích sự biệt hóa và hoạt động của nguyên bào xương, cần thiết cho việc đảo ngược quá trình mất mật độ xương ở những người bị loãng xương [8]. Về việc dùng MCHA như một phương pháp điều trị loãng xương tốt, OHC cung cấp tiềm năng đầy hứa hẹn với tác dụng đồng hóa trên xương (anabolic actions on bone). Kết hợp với sodium fluoride đem lại nhiều lợi ích [33]. Việc sử dụng MCHA cùng với sodium fluoride ở những bệnh nhân khỏe mạnh dẫn tới làm tăng sinh khả dụng canxi so với việc chỉ dùng mỗi sodium fluoride [34], thông qua cơ chế kích thích hoạt động của nguyên bào xương dẫn tới hình thành xương mới [33, 35]. Vì vậy, hợp chất OHC chịu trách nhiệm đối với các hoạt động đồng hóa trên xương, điều này nhấn mạnh khả năng điều trị loãng xương của MCHA [21].

Làm lành và điều trị gãy xương

Điều trị bằng OHC có thể đẩy nhanh quá trình làm liền xương gãy, và quan trọng hơn cả là, các thành phần hữu cơ của hợp chất cung cấp tác dụng tạo xương chủ yếu [36]. Gần đây người ta cũng  đã đề xuất sử dụng OHC để làm lành tổn thương do chấn thương. OHC không chỉ làm giảm tỉ lệ hủy xương  mà còn giúp kích thích sự hóa xương [32, 37]. Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy OHC có khả năng kích thích sự phát triển của xương mới trên bề mặt oxit nhôm cấy làm liền phần gãy xương. Quan trọng hơn, thành phần chất xương hữu cơ của hợp chất OHC, chứ không phải là phần khoáng chất, chịu trách nhiệm cho sự gia tăng đáng kể trong quá trình phát triển xương mới trên phần cấy ghép [37]. Các kết quả này đưa ra giả thuyết rằng OHC có các ưu điểm lâm sàng đặc biệt trong giai đoạn đầu của việc làm liền xương bằng cấy ghép và trong các trường hợp liền xương chậm. Sử dụng OHC như một liệu pháp đơn đối với các trường hợp gãy một hoặc nhiều xương cũng cho thấy sự cải thiện 1 – 4 tuần trong thời gian cần để làm liền xương gãy, bằng việc kích thích hình thành sẹo xương và cải thiện chỉ số lâm sàng [32, 35, 38, 39]. Hơn thế nữa, sử dụng OHC như một chất mô phỏng sinh học đối với việc tạo xương đã đưa ra một chiến lược tiềm năng mới cho việc tái tạo xương, bằng việc hoạt hóa tác dụng đồng hóa xây dựng xương [40, 41].

Sức khỏe của răng

Hydroxyapatite không chỉ có lợi cho việc duy trì xương khỏe mạnh, mà còn cho thấy cải thiện sức khỏe của răng, khi sử dụng tại chỗ trong khoang miệng. So với các nguyên liệu khác có trong kem đánh răng nói chung, chẳng hạn như fluoride và strontium fluoride, kem đánh răng hydroxyapatite có thể làm giảm sự quá mẫn răng sau 1-4 tuần, những khác biệt đáng kể được quan sát thấy trong các thang điểm VAS (thang điểm đánh giá cường độ đau) do bệnh nhân hoàn thành thang điểm và VAS do người điều hành hoàn thành thang điểm (ice-test) (Hình 2) [42]. Kem đánh răng hydroxyapatite toothpaste cũng đã được chứng minh là có lợi cho việc nám lại những lỗ cực nhỏ trên men răng. Men răng không có các tế bào sống vì vậy không có khả năng phục hồi khi bị tổn thương. Tuy nhiên, các vi tinh thể hydroxyapatite trong kem đánh răng gần như giống hệt về thành phần hóa học với chất khoáng hydroxyapatite được tìm thấy trong ngà răng và men răng, làm cho nó trở thành một mô phỏng sinh học [43]. Các vi tinh thể này có thể tái khoáng hóa và sửa chữa các vết nứt và lỗ trong men răng bằng cách hòa tan vào các vết nứt nhỏ, hàn gắn lại và tái tạo lại men răng hiện thời [44]. Bên cạnh việc sửa chữa lại men răng bị thương tổn, hydroxyapatite còn có ưu điểm giúp ngăn ngừa sâu răng bằng cách bít lại các vết thương tổn và bảo vệ chống lại sự quá mẫn gây ra do sự mất lớp men răng, bằng cách hình thành một lớp bảo vệ bên ngoài ngà răng [45]. Thành phần apatite của các vi tinh thể này cũng hấp thụ các hợp chất sulphate, như H2S, là nguyên nhân chính của chứng hôi miệng [43, 44].

Hình 3. a) Các kết quả của kem đánh răng hydroxyapatite trên bảng đánh giá VAS do bệnh nhân hoàn thành thang điểm và b) bảng đánh giá VAS do người điều hành hoàn thành thang điểm (ice test) tại thời điểm ban đầu và sau 1 và 4 tuần so với các kem đánh răng fluoride và strontium chloride thông thường [42].

Hình 3. a) Các kết quả của kem đánh răng hydroxyapatite trên bảng đánh giá VAS do bệnh nhân hoàn thành thang điểm và b) bảng đánh giá VAS do người điều hành hoàn thành thang điểm (ice test) tại thời điểm ban đầu và sau 1 và 4 tuần so với các kem đánh răng fluoride và strontium chloride thông thường [42].

Sâu răng ở những bệnh nhân chỉnh răng – Thử nghiệm lâm sàng đang tiếp diễn (Tháng mười năm 2014 – Tháng mười hai năm 2016)

Gần đây, một thử nghiệm lâm sàng đối chứng, ngẫu nhiên, mù đôi đang được thực hiện để đánh giá giả thuyết sử dụng thường xuyên kem đánh răng có chứa MCHA sẽ có tác dụng ngăn ngừa sâu răng ở những người dễ bị mắc bệnh này. Nghiên cứu này sẽ đo số lần bị sâu răng, viêm lợi (chỉ số về lợi), độ che phủ của mảng bám cao răng (chỉ số cao răng) và sự xâm lấn của mutans streptococci trong nước bọt và bề mặt răng. Thử nghiệm này sẽ so sánh các tác dụng của kem đánh răng có chứa MCHA không có fluoride với kem đánh răng có fluoridate thông thường (có chứa fluoride thiếc và fluoride amin). Làm sạch răng bằng cách dùng một bàn chải điện tiêu chuẩn hai lần mỗi ngày trong thời gian 24 tuần. Đối tượng của nghiên cứu sẽ bao gồm trẻ vị thành niên và thanh niên ở độ tuổi 12 – 25 đang cần chỉnh răng và có số lượng mutans streptococci gây sâu răng trong nước bọt cao (≥105CFU). Thử nghiệm lâm sàng này có thể cung cấp bằng chứng cho thấy cũng như các dạng khác của HA, việc dùng MCHA cũng là phương pháp điều trị phù hợp để duy trì răng khỏe mạnh và giải quyết các vấn đề về nha khác [46], tuy nhiên điều này có thể cần phải nghiên cứu sâu hơn vì là bổ sung qua đường uống.

Tóm tắt

MCHA có rất nhiều lợi ích trong việc điều trị và phòng ngừa thiếu hụt canxi ở các nhóm có nguy cơ cao. Có bằng chứng lâm sàng chứng minh việc sử dụng MCHA ở trẻ em và trẻ vị thành niên giúp hỗ trợ phát triển xương sớm. Bổ sung MCHA cũng đã được thẩm định ở phụ nữ mang thai, quanh/hậu-mãn kinh và người già vì các nhóm nguy cơ cao này rất dễ bị loãng xương. Mục đích của điều trị bằng MCHA là ngăn ngừa việc giảm mật độ xương và sự suy yếu xương liên quan đến loãng xương. MCHA không những có thể làm giảm sự hủy xương bằng cách ức chế hoạt động của hủy cốt bào, mà còn có khả năng đặc biệt để khôi phục lại xương bị mất bằng cách tăng cường hoạt động của tạo cốt bào và thúc đẩy sự tái tạo xương. Vì vậy, MCHA có lợi trong việc làm liền xương bị gãy và có khả năng điều trị loãng xương. MCHA có lợi trong việc duy trì sức khỏe của răng. Các nghiên cứu hiện này đang được thực hiện để xác định khả năng của MCHA  hỗ trợ ngăn ngừa sự quá mẫn của răng, sự phá hủy men răng và sâu răng. Vì vậy, có nhiều bằng chứng cho thấy MCHA có ưu điểm điều trị đối với việc ngăn ngừa thiếu hụt canxi và có khả năng giảm triệu chứng loãng xương cho chất lượng cuộc sống được tốt hơn.

Tài liệu tham khảo

  1. Bristow, S.M., et al, Acute and 3-month effects of microcrystalline hydroxyapatite, calcium citrate and calcium carbonate on serum calcium and markers of bone turnover: a randomised controlled trial in postmenopausal women. Br J Nutr, 2014. 112(10): p. 1611-20.
  2. Straub, D.A., Calcium Supplementation in Clinical Practice: A Review of Forms, Doses, and Indications. Nutrition in Clinical Practice, 2007. 22(3): p. 286-296.
  3. Castelo-Branco, C., et al., Comparison of the effects of calcium carbonate and ossein hydroxyapatite complex on back and knee pain and quality of life in osteopenic perimenopausal women. Maturitas, 2015. 81(1): p. 76-82.
  4. Karp, H.J., M.E. Ketola, and C.J.E. Lamberg-Allardt, Acute effects of calcium carbonate, calcium citrate and potassium citrate on markers of calcium and bone metabolism in young women. British Journal of Nutrition, 2009. 102(9): p. 1341-1347.
  5. Products, P.P.L.N.H., “Microcrystalline Hydroxyapatite (MCHA) Product Specification”. 2007.
  6. Federation, V.F., “Factsheet Livestock BSE.” Product Information. 2013.
  7. WHO vitamin and mineral requirements in human nutrition-Section 4 Calcium. 2016; Available from: http://www.who.int/nutrition/publications/micronutrients/9241546123/en/.
  8. Castelo-Branco, C., et al., Efficacy of ossein-hydroxyapatite complex compared with calcium carbonate to prevent bone loss: a meta-analysis. Menopause, 2009. 16(5): p. 984-991.
  9. Nilsen, K.H., M.I. Jayson, and A.S. Dixon, Microcrystalline calcium hydroxyapatite compound in corticosteroid-treated rheumatoid patients: a controlled study. British Medical Journal, 1978. 2(6145): p. 1124-1124.
  10. Dent, C.E. and T.C.B. Stamp, Hypophosphataemic Osteomalacia Presenting in Adults. QJM, 1971. 40(2): p. 303-329.
  11. Disilvestro, R.A., et al., Effects of micronutrient supplementation plus resistance exercise training on bone metabolism markers in young adult woman.Journal of Nutritional & Environmental Medicine, 2007. 16(1): p. 26-32.
  12. Hacker, A.N., E.B. Fung, and J.C. King, Role of calcium during pregnancy: maternal and fetal needs. Nutrition Reviews, 2012. 70(7): p. 397-409.
  13. Raman, L., et al., Effect of calcium supplementation to undernourished mothers during pregnancy on the bone density of the bone density of the neonates. The American Journal of Clinical Nutrition, 1978. 31(3): p. 466-9.
  14. Ettinger, A.S., et al., Effect of calcium supplementation on bone resorption in pregnancy and the early postpartum: a randomized controlled trial in Mexican Women. Nutrition Journal, 2014. 13: p. 116.
  15. Imdad, A., A. Jabeen, and Z.A. Bhutta, Role of calcium supplementation during pregnancy in reducing risk of developing gestational hypertensive disorders: a meta-analysis of studies from developing countries. BMC Public Health, 2011. 11(Suppl 3): p. S18-S18.
  16. Hofmeyr, G.J., J.M. Belizán, and P. von Dadelszen, Low-dose calcium supplementation for preventing pre-eclampsia: a systematic review and commentary. Bjog, 2014. 121(8): p. 951-957.
  17. Bergel, E., et al., Maternal calcium supplementation during pregnancy and dental caries of children at 12 years of age: follow-up of a randomized controlled trial. Acta Obstetricia et Gynecologica Scandinavica, 2010. 89(11): p. 1396-1402.
  18. Kunhardt, R.J., et al., Measurement of calcium and phosphorus levels during pregnancy and the puerperium. Ginecología y obstetricia de México, 1984. 52(331): p. 267.
  19. Fernández-Pareja, A., et al., Prevention of Osteoporosis. Clinical Drug Investigation, 2007. 27(4): p. 227-232.
  20. Castelo-Branco, C., et al., Ossein-hydroxyapatite compounds for preventing postmenopausal bone loss. Coadjuvant use with hormone replacement therapy. The Journal of reproductive medicine, 1999. 44(3): p. 241-246.
  21. Ciria-Recasens, M., et al., Comparison of the Effects of Ossein-Hydroxyapatite Complex and Calcium Carbonate on Bone Metabolism in Women with Senile Osteoporosis. Clinical Drug Investigation, 2011. 31(12): p. 817-824.
  22. Rüegsegger, P., A. Keller, and M.A. Dambacher, Comparison of the treatment effects of ossein-hydroxyapatite compound and calcium carbonate in osteoporotic females. Osteoporosis International, 1995. 5(1): p. 30-34.
  23. Epstein, O., et al., Vitamin D, hydroxyapatite, and calcium gluconate in treatment of cortical bone thinning in postmenopausal women with primary biliary cirrhosis. The American Journal of Clinical Nutrition, 1982. 36(3): p. 426-30.
  24. Pelayo, I., et al., Raloxifene plus ossein-hydroxyapatite compound versus raloxifene plus calcium carbonate to control bone loss in postmenopausal women: a randomized trial. Menopause, 2008. 15(6): p. 1132-1138.
  25. Hunt, M., The acute biochemical effects of four proprietary calcium preparations. Annals of Emergency Medicine. 15(11): p. 1371.
  26. Jorde, R., et al., Serum Calcium and Cardiovascular Risk Factors and Diseases: The Tromsø Study. Hypertension, 1999. 34(3): p. 484-490.
  27. Shin, S., et al., Impact of serum calcium and phosphate on coronary atherosclerosis detected by cardiac computed tomography. European Heart Journal, 2012. 33(22): p. 2873-2881.
  28. Bolland, M.J., A. Grey, and I.R. Reid, Calcium supplements and cardiovascular risk: 5 years on. Therapeutic Advances in Drug Safety, 2013. 4(5): p. 199-210.
  29. Haya-Palazuelos, J., et al., Safety and efficacy of ossein-hydroxyapatite complex for the prevention of osteoporosis during perimenopause. A three year follow-up study. Maturitas, 2015. 81(1): p. 170.
  30. Pines, A., et al., Clinical trial of microcrystalline hydroxyapatite compound (‘Ossopan’) in the prevention of osteoporosis due to corticosteroid therapy.Current Medical Research and Opinion, 1984. 8(10): p. 734-742.
  31. Stellon, A., et al., Microcrystalline hydroxyapatite compound in prevention of bone loss in corticosteroid-treated patients with chronic active hepatitis.Postgraduate Medical Journal, 1985. 61(719): p. 791-796.
  32. Varga, O., et al., [Osteogenon in therapy of distal radial bone fractures in patients with secondary osteoporosis]. Terapevticheskii arkhiv, 2007. 79(3): p. 52-54.
  33. Stamp TCB , J.M., Walker PG MT, Treatment of osteoporosis with MCHC compound and sodium fl uoride . Int Congr Symp, 1983. 9: p. 287-90.
  34. Brazier, M., et al., Fluoride bioavailability from sodium fluoride alone or in association with different calcium salts. European journal of drug metabolism and pharmacokinetics, 1991. Spec No 3: p. 161-165.
  35. Castelo-Branco, C.a.G.J.D.á.v., Use of ossein – hydroxyapatite complex in the prevention of bone loss: a review Climateric, 2015. 18: p. 29-37.
  36. Annefeld, M., et al., The influence of ossein-hydroxyapatite compound (‘Ossopan’) on the healing of a bone defect. Current Medical Research and Opinion, 1986. 10(4): p. 241-250.
  37. Schmidt, K.H., U.M. Wörner, and H.J. Buck, Examination of new bone growth on aluminium oxide implant contact surfaces after oral administration of ossein-hydroxyapatite compound to rats. Current Medical Research and Opinion, 1988. 11(2): p. 107-115.
  38. Bugaev D , G.V., Diagnosis and treatment of fractures of the distal radius metaepiphysis in elderly and senile age. Med New North Caucasus 2013. 1: p. 108-12.
  39. S, G., Ossopan in the treatment of fracture of long bones . Ind Med Gaz 1981. 9: p. 312-14.
  40. Liu, H., et al., The promotion of bone regeneration by nanofibrous hydroxyapatite/chitosan scaffolds by effects on integrin-BMP/Smad signaling pathway in BMSCs. Biomaterials, 2013. 34(18): p. 4404-4417.
  41. Gul ’ nazarova SV , K.O., Ossein-hydroxyapatite complex in the treatment of patients with pseudoarthrosis of the femur and shin bones, complicated by systemic osteoporosis . . Bull Traumatol Orthop Priorov, 2006. 2: p. 21-4.
  42. So-Jin Kang, Y.-H.K., Joon-Bong Park,Yeek Herr,and Jong-Hyuk Chung, The effects of hydroxyapatite toothpaste on tooth hypersensitivity. J Korean Acad Periodontol, 2009. 39(1): p. 9-16.
  43. Palmer, L.C., et al., Biomimetic Systems for Hydroxyapatite Mineralization Inspired By Bone and Enamel. Chemical reviews, 2008. 108(11): p. 4754-4783.
  44. Group, N.P., “Toothpaste that features microrepair science”. British Dental Journal, 2007. 203(7).
  45. Yamagishi, K., et al., Materials chemistry: A synthetic enamel for rapid tooth repair. Nature, 2005. 433(7028): p. 819-819.
  46. Enamel Caries in Orthodontic Patients (ECOP). August 2016, Prof. Dr. Ulrich Schlagenhauf, Wuerzburg University Hospital.

 

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *